![]()
Vi khuẩn Neisseria meningitidis. (Ảnh minh họa)
Ổ dịch do não mô cầu xuất hiện tại một trường học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua là lời cảnh báo về nguy cơ lây lan của căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm này.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Lê Kiến Ngãi, Trưởng khoa Dự phòng và Kiểm soát nhiễm khuẩn, Bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh do vi khuẩn não mô cầu (Neisseria meningitidis) có tỷ lệ mắc tương đối thấp so với cúm, sởi hay sốt xuất huyết. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc thấp không đồng nghĩa với nguy cơ thấp, bởi bệnh có thể lây truyền âm thầm trong cộng đồng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khi xuất hiện ca bệnh xâm lấn.
Người khỏe mạnh vẫn có thể mang vi khuẩn và lây bệnh
Một trong những nguyên nhân khiến bệnh do não mô cầu có thể bùng phát bất ngờ là hiện tượng người lành mang trùng.
Vi khuẩn não mô cầu có khả năng cư trú tại vùng hầu họng của con người mà không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Theo số liệu dịch tễ được Bệnh viện Nhi Trung ương dẫn lại, khoảng 5-10% dân số có thể mang vi khuẩn trong họng nhưng hoàn toàn khỏe mạnh. Tỷ lệ này ở nhóm thanh thiếu niên có thể lên tới 20-25%.
Điều đáng lo ngại là những người mang vi khuẩn không có biểu hiện bệnh vẫn có thể trở thành nguồn lây cho người khác.
Vi khuẩn lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc gần với dịch tiết đường hô hấp và nước bọt của người mang vi khuẩn hoặc người mắc bệnh, chẳng hạn khi ho, hắt hơi, tiếp xúc gần kéo dài hoặc dùng chung cốc uống nước.
Khi xâm nhập vào cơ thể người chưa có miễn dịch bảo vệ phù hợp, vi khuẩn có thể vượt qua hàng rào niêm mạc hầu họng, đi vào máu và màng não, gây nhiễm khuẩn huyết hoặc viêm màng não cấp tính.
Chính đặc điểm lây truyền âm thầm này khiến việc phát hiện nguồn lây trở nên khó khăn. Một người hoàn toàn khỏe mạnh vẫn có thể mang vi khuẩn mà không biết, trong khi người tiếp xúc có nguy cơ mắc bệnh nặng.
![]()
Bệnh nhi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Nguy cơ càng đáng lo ngại tại trường học, ký túc xá và những nơi có mật độ sinh hoạt tập trung cao.
Theo phân tích của chuyên gia, môi trường học đường có nhiều yếu tố thuận lợi cho sự lây truyền của não mô cầu. Học sinh thường xuyên học tập, sinh hoạt trong không gian chung, có thể ở phòng kín, sử dụng điều hòa và ít thông thoáng tự nhiên.
Bên cạnh đó, thói quen dùng chung cốc nước, thìa, đũa hoặc tiếp xúc gần làm tăng nguy cơ truyền vi khuẩn qua dịch tiết đường hô hấp.
Trẻ em và thanh thiếu niên cũng có mức độ miễn dịch bảo vệ đối với các nhóm não mô cầu không đồng đều. Khi vi khuẩn xuất hiện trong một tập thể có nhiều người cảm nhiễm, nguy cơ lây truyền và hình thành ổ dịch có thể gia tăng.
Có thể tử vong trong 24 giờ, người sống sót đối mặt di chứng nặng nề
Điều khiến bệnh do não mô cầu đặc biệt nguy hiểm không chỉ nằm ở khả năng lây truyền mà còn ở tốc độ diễn tiến và mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Theo Bệnh viện Nhi Trung ương, một người ban đầu hoàn toàn khỏe mạnh có thể chỉ xuất hiện các triệu chứng như sốt, đau họng, nhưng sau đó bệnh diễn tiến nhanh thành nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hoặc viêm màng não mủ.
Trong những trường hợp tối cấp, người bệnh có thể tử vong chỉ trong vòng 24 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng.
Đáng chú ý, ngay cả khi được chẩn đoán sớm và điều trị bằng kháng sinh, tỷ lệ tử vong do bệnh não mô cầu xâm lấn vẫn có thể ở mức 10-15%.
Không chỉ đe dọa tính mạng, căn bệnh này còn có thể để lại những di chứng nghiêm trọng đối với người sống sót.
Khoảng 10-20% người bệnh sống sót có thể phải đối mặt với các di chứng lâu dài như mất thính lực, tổn thương não, động kinh, tổn thương thận hoặc phải cắt cụt chi do hoại tử nghiêm trọng.
Đây cũng là lý do các chuyên gia y tế đặc biệt cảnh giác với bệnh do não mô cầu, dù số ca mắc được ghi nhận không nhiều như các bệnh truyền nhiễm phổ biến khác.
Một ca bệnh xâm lấn được phát hiện trong trường học hoặc môi trường sinh hoạt tập trung cần được xử trí khẩn trương, bởi những người tiếp xúc gần có thể đã phơi nhiễm với vi khuẩn trước khi ca bệnh đầu tiên được chẩn đoán.
Các dấu hiệu như sốt cao, đau đầu dữ dội, nôn, cứng gáy, lơ mơ, phát ban xuất huyết hoặc ban tím không mất màu khi ấn là những biểu hiện cần đặc biệt cảnh giác. Tuy nhiên, không phải người bệnh nào cũng xuất hiện đầy đủ các triệu chứng, nhất là trong giai đoạn đầu.
Khi nghi ngờ mắc bệnh, người bệnh cần được đưa đến cơ sở y tế ngay để được đánh giá và điều trị kịp thời, không chờ đến khi xuất hiện đầy đủ các dấu hiệu điển hình.
Cảnh báo khoảng trống miễn dịch, không chủ quan khi xuất hiện ca bệnh
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Lê Kiến Ngãi, một yếu tố khác khiến bệnh do não mô cầu vẫn có nguy cơ bùng phát là khoảng trống miễn dịch trong cộng đồng.
Vi khuẩn não mô cầu có nhiều nhóm huyết thanh, trong đó 5 nhóm chính gây bệnh xâm lấn nguy hiểm gồm A, B, C, W-135 và Y.
Hiện nay, các loại vaccine phòng não mô cầu có phạm vi bảo vệ đối với những nhóm huyết thanh khác nhau. Trẻ đã được tiêm vaccine phòng một số nhóm vẫn có thể chưa được bảo vệ trước những nhóm khác.
Trong khi đó, không phải tất cả trẻ em và thanh thiếu niên đều đã được tiếp cận và tiêm chủng đầy đủ vaccine phòng bệnh.
Khoảng trống miễn dịch này tạo điều kiện để vi khuẩn tiếp tục lưu hành và có thể gây bệnh khi gặp người cảm nhiễm.
![]()
Tiêm vaccine là cách phòng bệnh chủ động.
Để giảm nguy cơ mắc bệnh, các chuyên gia khuyến cáo gia đình cần chủ động tìm hiểu và đưa trẻ đi tiêm vaccine phòng não mô cầu phù hợp với độ tuổi, tiền sử tiêm chủng và hướng dẫn chuyên môn, bảo đảm phạm vi bảo vệ đối với các nhóm huyết thanh cần thiết.
Việc tiêm phòng cần được quan tâm từ sớm, đặc biệt trước khi trẻ bước vào các môi trường sinh hoạt tập trung như nhà trẻ, trường học hoặc ký túc xá.
Bên cạnh tiêm chủng, các cơ sở giáo dục cần duy trì môi trường học tập thông thoáng, vệ sinh thường xuyên những khu vực sử dụng chung, hướng dẫn học sinh rửa tay bằng xà phòng, không dùng chung cốc uống nước và các vật dụng tiếp xúc với nước bọt.
Đặc biệt, khi phát hiện ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc não mô cầu, việc xử trí phải được triển khai khẩn trương.
Cơ sở y tế và đơn vị y tế dự phòng cần nhanh chóng xác định những người tiếp xúc gần với bệnh nhân để đánh giá nguy cơ và chỉ định kháng sinh dự phòng theo hướng dẫn chuyên môn, lý tưởng trong vòng 24 giờ đầu sau khi xác định ca bệnh.
Kháng sinh dự phòng có vai trò loại bỏ tình trạng mang vi khuẩn ở vùng hầu họng, góp phần hạn chế nguy cơ xuất hiện các ca bệnh thứ phát. Tuy nhiên, không phải tất cả học sinh cùng trường hoặc người tiếp xúc thông thường đều cần sử dụng kháng sinh; việc chỉ định phải do nhân viên y tế thực hiện.
Cùng với đó, nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan y tế trong giám sát sức khỏe, phát hiện sớm trường hợp nghi ngờ và thực hiện các biện pháp phòng bệnh phù hợp.
Các chuyên gia nhấn mạnh, bài học từ ổ dịch não mô cầu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy không thể chủ quan chỉ vì số ca mắc trong cộng đồng còn thấp. Phát hiện sớm, xử trí kịp thời người tiếp xúc gần và chủ động tiêm vaccine là những biện pháp quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ lây lan, giảm số ca bệnh nặng và tử vong do não mô cầu.