Khoảng cách lớn giữa số thu và chi của Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang đặt ra câu hỏi về hiệu quả sử dụng nguồn lực an sinh. Trong khi hàng triệu lao động làm việc tại những ngành nghề tiềm ẩn rủi ro, một số nhóm vẫn chưa được bảo vệ đầy đủ.
Trước thực tế này, Bộ Nội vụ đang nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia, tăng mức hỗ trợ và sử dụng hiệu quả hơn nguồn quỹ cho các hoạt động phòng ngừa tai nạn.
![]()
Hình minh họa
Thu hơn 32.700 tỉ đồng, chi các chế độ chưa đến 1.500 tỉ đồng
Theo hồ sơ tổng kết gần 10 năm thi hành Luật An toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016-2025, Bộ Nội vụ đánh giá công tác bảo đảm an toàn tại nơi làm việc đã có những chuyển biến tích cực, nhưng việc sử dụng nguồn lực từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn còn hạn chế.
Trong giai đoạn 2020-2025, tổng số thu của quỹ đạt khoảng 32.700 tỉ đồng, trong khi số tiền chi trả các chế độ chưa đến 1.500 tỉ đồng. Tính bình quân, mỗi năm quỹ thu khoảng 5.400 tỉ đồng nhưng chi các chế độ chỉ khoảng 250 tỉ đồng, tương đương chưa đến 5% số thu.
Khoảng cách này cho thấy nguồn lực dành cho bảo vệ người lao động còn rất lớn. Tuy nhiên, số chi các chế độ thấp hơn nhiều so với số thu không đồng nghĩa toàn bộ khoản chênh lệch đều là tiền nhàn rỗi có thể phân phối ngay. Quỹ còn phải bảo đảm khả năng chi trả dài hạn và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định pháp luật.
Một trong những nguyên nhân khiến chi trả thấp là tần suất tai nạn lao động chết người đã giảm so với giai đoạn trước. Theo đánh giá của Bộ Nội vụ, số vụ tai nạn và chi phí liên quan giảm đã góp phần tiết kiệm nguồn lực xã hội.
Cụ thể, tần suất tai nạn lao động chết người giảm từ 5,61 xuống còn 4,77 trường hợp trên 100.000 lao động khi so sánh các giai đoạn thống kê. Số lao động được khám, phát hiện bệnh nghề nghiệp bình quân hằng năm cũng tăng từ hơn 110.000 lên trên 394.000 người.
Bên cạnh đó, số người tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tăng từ 12,76 triệu người năm 2016 lên 17,84 triệu người năm 2024, tương đương mức tăng gần 40%.
Dù số người tham gia liên tục mở rộng, mức đóng vào quỹ đã được điều chỉnh giảm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. Từ mức 1% quỹ tiền lương trước đây, mức đóng thông thường hiện còn 0,5%; doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện về an toàn, vệ sinh lao động và giảm tần suất tai nạn có thể được áp dụng mức đóng 0,3%.
Trong giai đoạn dịch COVID-19, chính sách giảm mức đóng về 0% trong thời gian nhất định cũng góp phần giảm áp lực tài chính, giúp doanh nghiệp duy trì sản xuất và việc làm.
Tuy nhiên, số vụ tai nạn giảm không đồng nghĩa rủi ro tại nơi làm việc đã được kiểm soát hoàn toàn. Những ngành nghề như xây dựng, khai thác khoáng sản, cơ khí, chế biến gỗ và vận hành máy móc vẫn thường xuyên xuất hiện các vụ tai nạn nghiêm trọng.
Thực tế cho thấy những sự cố liên quan đến thiết bị không bảo đảm an toàn, thiếu huấn luyện hoặc không sử dụng đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân vẫn có thể gây hậu quả đặc biệt lớn.
Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là duy trì khả năng cân đối của quỹ mà còn là làm thế nào để nguồn tiền được sử dụng hiệu quả hơn, giúp giảm thiểu rủi ro trước khi tai nạn xảy ra.
Đề xuất mở rộng bảo vệ người làm việc ngắn hạn, người hưởng lương hưu
Một trong những bất cập được Bộ Nội vụ chỉ ra là phạm vi bảo vệ của chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hiện chưa bao phủ đầy đủ các nhóm lao động có rủi ro.
Theo quy định hiện hành, người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ một tháng thuộc các nhóm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo luật định được bảo vệ thông qua chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi đáp ứng các điều kiện liên quan.
Trong khi đó, những người làm việc theo hợp đồng dưới một tháng hoặc đã hưởng lương hưu nhưng tiếp tục tham gia thị trường lao động có thể không thuộc diện bảo hiểm bắt buộc tương ứng, dù vẫn thực hiện các công việc tiềm ẩn nguy cơ tai nạn.
Chẳng hạn, một người lao động được thuê làm việc tại công trình xây dựng trong 20 ngày. Trong thời gian này, người đó vẫn phải đối mặt với những nguy cơ như ngã cao, điện giật hoặc tai nạn do máy móc. Tuy nhiên, do thời hạn hợp đồng ngắn, họ có thể không thuộc diện tham gia quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc.
Tương tự, một người đã nghỉ hưu nhưng tiếp tục làm bảo vệ, vận hành máy móc hoặc tham gia sản xuất vẫn có nguy cơ gặp tai nạn trong quá trình làm việc. Việc không thuộc diện đóng bảo hiểm bắt buộc do đã hưởng lương hưu có thể khiến họ không được hưởng chế độ từ quỹ theo cơ chế hiện hành.
Điều này không có nghĩa người lao động ngoài diện tham gia quỹ hoàn toàn không được pháp luật bảo vệ. Trách nhiệm của người sử dụng lao động về bảo đảm an toàn, thanh toán chi phí, bồi thường hoặc trợ cấp khi xảy ra tai nạn vẫn được xác định theo quan hệ lao động và các quy định liên quan.
Tuy nhiên, những quyền lợi do quỹ bảo hiểm chi trả là cơ chế riêng, có điều kiện tham gia và hưởng cụ thể.
Từ thực tế này, Bộ Nội vụ đề xuất nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia để tăng khả năng bảo vệ cho các nhóm lao động đang nằm ngoài phạm vi của chính sách hiện hành.
Bên cạnh việc mở rộng diện tham gia, cơ quan soạn thảo cũng xem xét khả năng nâng mức hưởng một số chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động hiện hành, người tham gia bảo hiểm đáp ứng điều kiện có thể được hưởng trợ cấp một lần nếu suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30%, hoặc trợ cấp hằng tháng nếu suy giảm từ 31% trở lên.
Ngoài ra, tùy trường hợp, người lao động còn được hưởng các chế độ như trợ cấp phục vụ, hỗ trợ phục hồi chức năng, phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình, dưỡng sức sau điều trị và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.
Để đánh giá khả năng mở rộng quyền lợi, Bộ Nội vụ đưa ra kịch bản giả định tăng 20% mức hưởng đối với một số chế độ. Theo tính toán, phương án này làm số chi của quỹ tăng khoảng 50 tỉ đồng mỗi năm.
Đây mới là kịch bản đánh giá tác động tài chính, chưa phải quyết định tăng đồng loạt 20% trợ cấp cho tất cả người đang hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Nếu phương án được thông qua, mức tăng, nhóm được áp dụng và thời điểm thực hiện sẽ cần được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật.
Có thể dành khoảng 750 tỉ đồng mỗi năm để phòng ngừa tai nạn
Bên cạnh việc điều chỉnh chế độ chi trả, Bộ Nội vụ đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu bồi thường sau tai nạn sang chủ động phòng ngừa rủi ro tại nơi làm việc.
Theo định hướng này, quỹ bảo hiểm không chỉ hỗ trợ người đã bị tai nạn hoặc mắc bệnh nghề nghiệp mà còn cần đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế nguy cơ thương tích, bệnh tật ngay từ đầu.
Pháp luật hiện hành đã cho phép Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp dành tối đa 10% nguồn thu hằng năm để hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa và chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên, phạm vi hỗ trợ, điều kiện thực hiện và hiệu quả sử dụng nguồn lực vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.
Bộ Nội vụ đang nghiên cứu mở rộng các hoạt động được hỗ trợ, trong đó có đánh giá nguy cơ tại nơi làm việc, cải thiện điều kiện lao động và ứng dụng khoa học, công nghệ để hạn chế các yếu tố nguy hiểm.
Với số thu của quỹ năm 2026 dự kiến khoảng 7.500 tỉ đồng, nếu sử dụng tối đa 10% nguồn thu cho công tác phòng ngừa, kinh phí có thể đạt khoảng 750 tỉ đồng.
Cộng thêm khoảng 50 tỉ đồng dự kiến tăng chi nếu điều chỉnh một số mức hưởng, tổng nhu cầu tăng chi theo kịch bản nghiên cứu vào khoảng 800 tỉ đồng mỗi năm, tương đương 10,7% số thu dự kiến của quỹ năm 2026.
Bộ Nội vụ đánh giá quy mô nguồn lực và khả năng cân đối hiện tại cho phép nghiên cứu thực hiện những chính sách này mà vẫn bảo đảm tính bền vững của quỹ.
Một trong những hướng được chú ý là ứng dụng công nghệ vào quản lý an toàn lao động.
Trong những ngành có nguy cơ tai nạn cao như xây dựng, khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp và logistics, các hệ thống camera thông minh, trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc thiết bị cảm biến có thể hỗ trợ nhận diện hành vi không an toàn và phát cảnh báo sớm.
Chẳng hạn, hệ thống camera tích hợp AI có thể hỗ trợ phát hiện người lao động đi vào khu vực nguy hiểm, không sử dụng phương tiện bảo hộ theo quy định hoặc tiếp cận máy móc khi chưa đáp ứng điều kiện an toàn.
Các giải pháp này không thay thế trách nhiệm giám sát trực tiếp và huấn luyện tại doanh nghiệp, nhưng có thể hỗ trợ phát hiện nguy cơ sớm hơn, đặc biệt tại những môi trường sản xuất phức tạp.
Trong giai đoạn 2021-2025, mỗi năm có khoảng 2-3 triệu lượt người được huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Ngoài ra, các doanh nghiệp và tổ chức còn tự tổ chức huấn luyện cho khoảng 2-5 triệu lượt người mỗi năm.
Dù vậy, với lực lượng lao động cả nước khoảng 55 triệu người, việc nâng cao chất lượng huấn luyện, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ phòng ngừa và thúc đẩy ứng dụng công nghệ vẫn là nhiệm vụ lớn.
Một chính sách bảo hiểm hiệu quả không chỉ được đánh giá bằng khả năng chi trả khi người lao động gặp rủi ro mà còn bằng số vụ tai nạn và bệnh nghề nghiệp có thể ngăn chặn nhờ các biện pháp phòng ngừa.
Do đó, việc mở rộng sử dụng quỹ cần đi kèm cơ chế kiểm soát chặt chẽ, công khai hiệu quả của từng chương trình hỗ trợ và bảo đảm kinh phí đến đúng đối tượng có nguy cơ cao.
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động đã được Chính phủ thông qua hồ sơ trình và đang tiếp tục thực hiện quy trình lập pháp. Những phương án mở rộng đối tượng, tăng mức hưởng hoặc bổ sung nội dung chi chưa trở thành quyền lợi mới có hiệu lực.
Nếu được hoàn thiện và thông qua, chính sách có thể tạo ra thay đổi đáng kể trong cách sử dụng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Thay vì chủ yếu duy trì nguồn dự phòng lớn, quỹ có thể phát huy vai trò tích cực hơn trong bảo vệ sức khỏe, giảm rủi ro và hỗ trợ người lao động duy trì khả năng làm việc.
Với người lao động, điều đáng quan tâm nhất không chỉ là quỹ đang có bao nhiêu tiền mà là khi gặp tai nạn, họ có được bảo vệ đầy đủ, nhận quyền lợi đúng thời hạn và có cơ hội phục hồi để tiếp tục làm việc hay không.