'Thanh Hóa có Thành nhà Hồ' là tên sản phẩm đầu tay của nhóm học sinh có Lê Vũ Quỳnh Chi, lớp 7A1, Trường THCS Vĩnh Lộc – Phân hiệu 1. Nhóm gồm 10 bạn, cùng đến di sản ghi chép, quay phim, chụp ảnh dưới sự hướng dẫn của cô tổng phụ trách Đội; trở về lớp, các em bàn bạc, lựa chọn hình ảnh, viết lời dẫn rồi dựng video.
Tên phim nghe như lời giới thiệu giản dị của người nhà. Không cần những mỹ từ lớn lao, chỉ cần gọi đúng tên quê hương và điều mình muốn chia sẻ. Nhưng để nói được lời giản dị ấy bằng hình ảnh, bằng câu chuyện có đầu có cuối, các em đã phải làm nhiều việc hơn việc nhớ tên di tích.
Từ người được dẫn đi tham quan, học trò bắt đầu trở thành người dẫn chuyện.
![]()
Thầy Đỗ Trương Thuận, Phó Hiệu trưởng phụ trách Phân hiệu 1, Trường THCS Vĩnh Lộc, đồng hành cùng học sinh trong hoạt động ngoại khóa về di sản. Trước cổng Thành nhà Hồ, thầy và trò cùng hướng vào màn hình máy tính. Ảnh: Hoa Mai/TTXVN
Muốn kể hay, trước hết phải hiểu
Cuộc thi 'Thành nhà Hồ – Di sản gọi tên em!' đã nhận được 11 video sau 5 tháng phát động. Theo thể lệ, tác phẩm dài từ 3–5 phút, sử dụng hình ảnh do học sinh tự chụp, tự quay trong thời gian phát động; các em trực tiếp thuyết minh bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, với phụ đề tiếng Việt nếu sử dụng tiếng Anh. Các video được đăng tải trên Fanpage Di sản Thế giới Thành nhà Hồ từ ngày này.
Ba đến năm phút là khoảng thời gian ngắn với người xem. Với người làm, đó lại là yêu cầu phải lựa chọn: chi tiết nào đáng giữ, câu nào cần giải thích, hình ảnh nào giúp người chưa từng đến đây hiểu được điều mình muốn nói.
Chính ở công đoạn ấy, việc học có chiều sâu hơn. Nhớ để trả lời câu hỏi của thầy cô khác với hiểu để giải thích cho người khác. Người kể phải tự hỏi mình đã biết đến đâu. Câu chuyện càng muốn đi xa, chỗ dựa của nó càng phải chắc.
Ở đây cũng có cách nhìn khác về chiếc màn hình thường khiến người lớn lo trẻ nhỏ xa rời đời sống. Khi được dùng để kể chuyện quê hương, công nghệ có thể đưa các em trở lại với cảnh vật thật, tư liệu thật và những câu hỏi cần người có hiểu biết giải đáp. Điều quyết định nằm ở việc các em được mời làm gì với công cụ đang có trong tay.
Bởi vậy, điều đáng quý trong cuộc thi chưa hẳn là đoạn phim nào có kỹ xảo đẹp nhất. Đó còn là quá trình học cách quan sát, kiểm chứng, lắng nghe bạn bè và chịu trách nhiệm về điều mình đưa đến công chúng. Tình yêu quê hương có thêm chiều sâu khi đi cùng sự cẩn trọng ấy.
Cánh cửa mở từ những việc cụ thể
Trong thời gian tổ chức cuộc thi, Ban Quản lý Di sản Thành nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa hỗ trợ toàn bộ vé tham quan, đồng thời thuyết minh miễn phí cho học sinh tham gia tìm hiểu di sản.
Chi tiết ấy nhỏ, nhưng giúp lời mời đến với di sản trở nên thực chất. Khuyến khích trẻ yêu lịch sử cần đi cùng điều kiện để các em được đến, được hỏi, được tìm hiểu. Muốn học trò sáng tạo thì cũng phải dành cho các em thời gian, tư liệu và sự đồng hành.
Bức ảnh thầy trò bên máy tính, phía sau là cổng thành đá, gợi nhiều hơn câu chuyện sử dụng thiết bị. Trong cùng khuôn hình có công trình được gìn giữ và những người đang học cách tiếp nhận nó. Người thầy đứng cạnh học trò; ánh nhìn cùng hướng vào công việc. Khoảng cách giữa bài giảng và sự khám phá của trẻ được thu hẹp bằng chính sự có mặt ấy.
Không cần vội gọi các em là những người làm truyền thông chuyên nghiệp. Tuổi học trò cần được thử, được sửa, được giữ lại giọng kể còn vụng về nhưng chân thật. Nếu người lớn làm thay để có sản phẩm hoàn hảo, cuộc thi có thể đẹp hơn, còn cơ hội trưởng thành của trẻ lại ít đi.
Giá trị của sự hỗ trợ nằm ở chỗ giúp các em tự làm được. Khi ấy, người dân ở vị trí trung tâm hiện ra rất cụ thể: trẻ được tiếp cận di sản, được trang bị hiểu biết và được tin cậy giao phần việc sáng tạo.
Quê hương cần những người kể chuyện hiểu mình
Tại Lam Kinh, cuộc thi 'Em là hướng dẫn viên di tích quê em' cũng mở rộng nội dung đến phong tục, lễ hội, làng nghề và đặc sản địa phương. Sau 5 tháng phát động, ban tổ chức nhận được 12 video của học sinh Trường THCS Lam Sơn.
Cách mở rộng ấy đáng suy nghĩ khi nhìn về phát triển du lịch. Điểm đến cần có câu chuyện, nhưng câu chuyện thuyết phục phải được nuôi dưỡng từ hiểu biết về nơi chốn và con người. Di tích nằm trong đời sống của cộng đồng, bên những nếp sinh hoạt, ký ức gia đình và công việc thường ngày. Người sống ở đó có quyền góp cách nhìn của mình.
Chưa thể từ vài chục video học đường suy ra doanh thu hay lượng khách tăng thêm. Điều có thể trân trọng ngay là cơ hội hình thành lớp người biết giới thiệu quê hương bằng hiểu biết và sự gắn bó. Đó là nền tảng cần được chăm chút trước cả những chiến dịch quảng bá lớn: người ở gần di sản hiểu giá trị của di sản, rồi tự nguyện chia sẻ điều mình biết.
Sự phát triển văn hóa cũng cần được nhìn ở thước đo ấy. Có thêm bao nhiêu người muốn tìm hiểu? Có thêm bao nhiêu tiếng nói được lắng nghe? Sau hoạt động, ai sẽ còn muốn quay lại, tiếp tục khám phá và kể tiếp câu chuyện?
Các em rồi sẽ lớn, có người ở lại, có người đi xa. Chúng ta chưa biết ai sẽ làm du lịch, ai sẽ trở thành người sáng tạo nội dung, ai chọn công việc hoàn toàn khác. Cũng không cần buộc tình yêu di sản phải dẫn đến nghề nghiệp nào mới được coi là có ích.
Chỉ riêng khả năng giới thiệu quê mình với sự am hiểu và tự tin đã là hành trang đáng quý. Giữa rất nhiều điều có thể kể với thế giới, những học trò ấy đã tìm thấy điều để bắt đầu ngay trên đất quê hương.